|
|
A.
Xét về mặt giáo lư bí tích
T́nh trạng hai vợ chồng công giáo ly dị rồi sau đó kết hôn về
mặt dân sự bắt đầu có tại Việt Nam. Ở đây chúng ta không phân tích những
nguyên nhân gây nên t́nh trạng đỗ vỡ nầy. Một điều phải nhớ là Giáo Hội
ư thức hiện tượng và hiểu rơ những phức tạp của đời sống gia đ́nh, đồng
thời luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho những vợ chồng công giáo gặp khó
khăn và đau buồn khi gia đ́nh tan vỡ, v́ thực t́nh mà nói, chẳng vợ
chồng nào lại mong muốn băo tố vần vũ trên gia đ́nh của ḿnh. Chính v́
thế mà Giáo Hội luôn nhắc nhủ các vị mục tử hăy luôn dành sự cảm thông,
t́nh yêu thương của Đức Kitô và t́nh mẫu tử của Giáo Hội cho những đôi
vợ chồng nầy và tiếp đón họ cách ân cần, với t́nh thương mục tử, với sự
động viên khích lệ họ luôn tin cậy vào Thiên Chúa nhân từ, đồng thời t́m
cách giúp họ trở về nối lại sự hiệp với thông với Giáo Hội. Do đó, các
bạn đừng nghĩ rằng Giáo Hội đă khai trừ các bạn và như thế là vô phương
cứu chữa (x.CDF. Lettre aux Évêques de l’Église catholique sur l’accès à
la communion eucharistique de la part des fidèles divorcés remariés, số
8,9,10).
Tuy nhiên, v́ Giáo Hội được Chúa thiết lập và phải vâng theo sự hướng
dẫn của Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, nên sự cảm thông và
ḷng thương xót của Giáo Hội dành cho những người lầm lỡ, không được
tách rời và phản lại sự thật của lề luật mà Chúa Kitô đă truyền dạy. V́
thế, các mục tử không được giải quyết theo ư riêng của ḿnh, mà phải
theo phương thức Giáo Hội hướng dẫn. Đây là điều mà bạn cần phải hiểu rơ
để thông cảm với Giáo Hội và để đừng trách móc kêu ca các linh mục làm
khó dễ, khi không đồng ư cho lănh nhận Thánh Thể.
Theo nguyên tắc chung: Vợ chồng công giáo ly dị rồi tái hôn theo luật
dân sự không được lănh nhận Thánh Thể. Thánh Bộ Giáo Lư Đức Tin và Kỷ
Luật Bí Tích đă nhắc nhở về giáo huấn và kỷ luật phải giữ, như sau:
1/ Việc tái hôn không bao giờ được công nhận, bao lâu hôn phối trước đă
cử hành hữu hiệu vẫn c̣n tồn tại. Những người công giáo ly dị tái kết
hôn dân sự là tự đặt ḿnh vào t́nh trạng đối nghịch với lề luật của
Thiên Chúa về sự chung thủy vững bền của hôn nhân, và bao lâu họ c̣n ở
trong t́nh trạng nầy, th́ bấy lâu họ không có điều kiện để lănh nhận
Thánh Thể. Đây không phải là h́nh phạt hoặc là biện pháp có tính cách kỳ
thị, nhưng là sự xác nhận công khai và chính thức rằng t́nh trạng nầy
không phù hợp với việc lănh nhận Thánh Thể, đồng thời tránh gương xấu
cho người khác đặt nghi vấn về tích cách bất khả phân ly của bí tích hôn
nhân.
2/ Những tín hữu sống chung với người khác phái như vợ chồng (more
uxorio), th́ không thể lănh nhận Thánh Thể, cả khi họ cho rằng, theo
lương tâm, họ có thể làm như vậy. Các mục tử có trách nhiệm nhắc nhở cho
những người nầy biết rằng phán đoán như vậy của lương tâm là không phù
hợp với giáo huấn của Giáo Hội.
3/ Trong trường hợp ly dị tái hôn, không thể chấp nhận luật
tối thượng của lương tâm cá nhân, để
tự cho phép ḿnh được lănh nhận Thánh Thể hoặc tự quyết định về tính hữu
hiệu của hôn nhân trước và về giá trị cũng như tính hợp pháp của việc
sống chung sau nầy. Sự ưng thuận kết lập nên hôn nhân không phải là một
quyết định riêng tư cá nhân, nhưng c̣n mang tính giáo hội và cộng đoàn.
Do đó, không thể nói rằng chỉ ḿnh chịu trách nhiệm với Chúa, để đơn
phương chối bỏ vai tṛ trung gian của Giáo Hội. Chối bỏ điều nầy th́
cũng đồng nghĩa với việc không công nhận hôn nhân là bí tích.
4/ Việc xem xét và quyết định hôn phối hữu hiệu hay không là thuộc thẩm
quyền của Toà Án Giáo hội. Quy định nầy cần thiết để tránh những mâu
thuẫn có thể có giữa sự thật có thể chứng minh ở Toà ngoài với sự thật
phát xuất từ lương tâm ngay chính (FC 18). Giáo hội là thân thể của Chúa
Kitô, v́ thế sống hiệp thông với Giáo hội, là sống trong thân thể Chúa
Kitô và ngược lại, là tách ĺa.
Trong thực tế, một vài trường hợp cụ thể sau đây có thể được cứu xét cho
lănh nhận Thánh Thể:
a/ Khi người phối ngẫu là nạn nhân của đổ vỡ do người kia gây ra, mặc
dầu người nầy đă cố gắng tỏ thiện chí ḥa giải để cứu văn hôn nhân.
b/ Khi một người tự biết rằng hôn phối trước của ḿnh không thành sự,
nhưng không thể có cách nào để chứng minh ở Toà ngoài.
c/ Khi đương sự có lỗi đă nhiều năm suy xét, ư thức và hối hận về sai
lỗi của ḿnh.
d/ Khi, trong thực tế, không thể nào dứt bỏ việc sống chung với người
bạn mới, v́ những lư do thực tế chính đáng như việc nuôi dạy con cái
chưa trưởng thành.
Để xác định đúng được trường hợp của ḿnh, bạn phải trao đổi với một
linh mục khôn ngoan và có tŕnh độ chuyên môn về giáo luật. Vị linh mục
nầy không có quyền cho phép, nhưng hướng dẫn để giúp bạn phán đoán cách
đúng đắn sự việc theo lương tâm ngay thẳng của bạn trong việc xác định
xem có được lănh nhận Thánh Thể hay không. Khi xét thấy là chính đáng,
th́ chỉ được lănh nhận Thánh Thể sau khi đă được thanh tẩy và hoà giải
với Chúa trong bí tích giải tội đi kèm với điều kiện là bạn nh́n nhận và
sám hối về sai lỗi của ḿnh đối với giao ước hôn nhân và sự trung thành
với Chúa Kitô trong giao ước nầy, đồng thời quyết tâm thu xếp giải quyết
t́nh trạng sống chung bất hợp pháp cho phù hợp với giáo huấn của Chúa về
tính bất khả phân ly của hôn nhân. Nếu trong thực tế, v́ lư do nuôi dạy
con cái mà bạn không thể tách ĺa nhau ngay được, th́ phải cam kết tiết
dục không sinh hoạt vợ chồng.
B. Về mặt Giáo luật
Trong Tông Huấn về Gia đ́nh, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác định
thẩm quyền chuyên biệt của các Toà án Giáo Hội trong việc xác định tính
hữu hiệu của việc kết hôn khi có khiếu nại và giải quyết sự mâu thuẫn,
nếu có, về sự thật có thể chứng minh được ở Ṭa ngoài và sự thật do
lương tâm phán quyết (Ṭa trong).
Về vấn đề nầy, Giáo luật xác định những tiêu chuẩn sau đây:
1/ Hôn nhân Công giáo mang tính Giáo Hội
Mặc dầu hôn nhân là sự lựa chọn tự do, riêng tư của mỗi người, nhưng
không thể phủ nhận giá trị và sự liên đới của nó đối với Cộng đoàn Giáo
hội. Sự liên đới nầy được thể hiện trong suốt tiến tŕnh tiến tới việc
kết hôn: thủ tục tra vấn đầu tiên (GL đ.1066), sự chứng kiến của thừa
tác viên và thể thức giáo luật khi cam kết (GL đ.1108), sự trợ giúp và
đồng hành của Cộng đoàn giáo xứ với đôi tân hôn (GL đ.1063), nhất là
tính bí tích của hôn nhân (GL. 1055.2). Tất cả những sự kiện nầy dẫn đôi
bạn vào sự hiệp thông với Giáo Hội. V́ thế, Giáo hội có bổn phận bảo vệ
sự thánh thiêng và bảo đảm cho việc kết hôn được thành tựu hợp pháp và
tốt đẹp. Do đó, việc cứu xét các yếu tố làm cho hôn nhân không thành sự
và việc quy định những điều kiện cần có cho việc tái hôn, là thuộc thẩm
quyền của Giáo Hội (GL. 1085.2).
2/ Khi có sự tranh chấp giữa phán quyết của Toà ngoài và của Lương tâm
- Không thể lấy lương tâm làm trọng tài để giải quyết những nguyên tắc
mà Giáo Hội đă quy định như là điều kiện để hôn nhân thành sự và hợp
pháp, như: thể thức cử hành, sự tự do và ưng thuận của mỗi bên kết hôn,
những ngăn trở cấm hôn hoặc tiêu hôn.
- Khi có sự tranh chấp giữa Lương tâm và phán quyết bên ngoài, th́ phán
quyết của Ṭa án có giá trị ưu tiên.
3/ Khi không hội đủ những yếu tố bên ngoài để chứng minh cho sự việc,
th́ sự thú nhận của các đương sự cũng cần được Toà án thẩm định và xác
minh trong mối tương quan với những yếu tố và t́nh huống khác nhau của
vụ việc (x.GL 1536 và 1679). Sau khi xét thấy sự thú nhận của đương sự
là chính đáng và phù hợp, th́ sự thú nhận ấy được công nhận theo nguyên
tắc: v́
lợi ích thiêng liêng của linh hồn (GL.
1752).
Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh